Trung Tâm Tin Hoc Trường Tín Tphcm

Tìm hiểu về Asynchronous Transfer Mode (ATM) trong mạng máy tính

--
Web Tin Học Trường Tín có bài: Tìm hiểu về Asynchronous Transfer Mode (ATM) trong mạng máy tính Asynchronous Transfer Mode (ATM) hay chế độ truyền không đồng bộ là một kỹ thuật chuyển mạch sử dụng ghép kênh phân chia thời gian – TDM (Time Division Multiplexing) – để truyền dữ liệu. ATM là một công nghệ mạng hỗ trợ giao tiếp thoại, video và dữ liệu.

Asynchronous Transfer Mode (ATM) hay chế độ truyền không đồng bộ là một kỹ thuật chuyển mạch sử dụng ghép kênh phân chia thời gian – TDM (Time Division Multiplexing) – để truyền dữ liệu. ATM là một công nghệ mạng hỗ trợ giao tiếp thoại, video và dữ liệu. ATM mã hóa dữ liệu thành các cell nhỏ có kích cỡ cố định để chúng thích hợp với TDM và truyền qua phương tiện vật lý.

Đặc điểm của ATM

– Công nghệ ATM cung cấp băng thông động đặc biệt phù hợp cho lưu lượng truy cập nhanh.

– Tất cả dữ liệu được mã hóa thành các cell giống hệt nhau. Do đó, việc truyền dữ liệu đơn giản, nhất trí và cũng đều có thể dự báo được. Kích thước gói đồng nhất đảm bảo rằng lưu lượng hỗn hợp được giải quyết hiệu quả.

– Kích thước của một cell ATM là 53 byte, header 5 byte và payload 48 byte. Có hai định dạng cell khác nhau – User Network Interface (UNI) và Network Network Interface (NNI).

– “Asynchronous” ngụ ý rằng các cell không cần được truyền liên tục như trong số đường truyền đồng bộ. Các cell chỉ bắt đầu gửi khi có dữ liệu được gửi.

– Header ATM có kích cỡ nhỏ 5 byte. Điều này làm giảm trạng thái quá tải gói, do đó đảm bảo sử dụng băng thông hiệu quả.

– ATM phân chia linh hoạt đòi hỏi băng thông của layer vật lý. Nó cung cấp khả năng mở rộng bao gồm cả kích cỡ và tốc độ.

Mô hình tham chiếu chức năng của ATM
Mô hình tham chiếu chức năng của ATM

Mô hình tham chiếu ATM

Mô hình tham chiếu ATM bao gồm 3 layer:

1. Layer vật lý

Layer này tương ứng với layer vật lý của loại hình OSI. Tại layer này, các cell được chuyển đổi thành những dòng bit và truyền qua môi trường vật lý. Layer này còn có hai layer con – layer con PMD (Physical Medium Dependent) và layer con TC (Transmission Convergence).

2. Layer ATM 

Layer này còn có thể so sánh với layer liên kết dữ liệu của loại hình OSI. Nó chấp nhận các segment 48 byte từ layer trên, thêm header 5 byte vào mỗi segment và chuyển đổi thành các cell 53 byte. Layer này nhận trách nhiệm định tuyến cho mỗi cell, quản lý lưu lượng, ghép kênh và chuyển mạch.

3. ATM Adaptation Layer (AAL) 

Layer này tương ứng với layer mạng của mô hình OSI. Nó cung cấp các tiện ích cho những mạng chuyển mạch gói hiện có để kết nối với mạng ATM và sử dụng mọi service của nó. Layer này nhận dữ liệu và chuyển đổi chúng thành các segment có kích thước cố định. Việc truyền có thể có tốc độ dữ liệu cố định hoặc thay đổi. Layer này còn có hai layer con – layer con Convergence và layer con Segmentation and Reassembly.

Xem thêm:

  • Tìm hiểu về giao thức Telnet
  • Tìm hiểu về Wireless Sensor Network (WSN)
  • Tìm hiểu về Desk Area Network (DAN)
  • Tìm hiểu về WiMAX Internet
  • Tìm hiểu về mạng Personal Area Network (PAN)
  • Tìm hiểu về POE (cấp nguồn qua cáp Ethernet)

Asynchronous Transfer Mode, ATM, giao thức ATM, Tìm hiểu về Asynchronous Transfer Mode, ATM là gì, ATM trong mạng máy tính, đặc điểm của ATM

Nội dung Tìm hiểu về Asynchronous Transfer Mode (ATM) trong mạng máy tính được tổng hợp sưu tầm biên tập bởi: Tin Học Trường Tín. Mọi ý kiến vui lòng gửi Liên Hệ cho truongtin.top để điều chỉnh. truongtin.top tks.

Bài Viết Liên Quan


Bài Viết Khác

--